Trang chủ Diễn đàn Liên hệ Tiếng việt Tiếng anh  
Tin tức
 Tin công ty
 Video hoạt động
 Hình Ảnh Hoạt Động
 Cứu cây đa tân trào
Danh mục sản phẩm
 Phân bón hữu cơ
 Hướng dẫn sử dụng
Hỗ trợ trực tuyến
Hotline : 0982 290 613

Liên kết website
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 241754
Đang trực tuyến: 1
Mua hàng
 0 Sản phẩm
Quảng cáo
Tin mới
Doanh nghiệp Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp Myanmar trong việc thương mại hóa và sử dụng kết quả nghiên cứu để phát triển sản xuất các chế phẩm nông nghiệp công nghệ cao tại Myanmar

Được sự hỗ trợ của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ trong việc kết nối chuyển giao công nghệ, chiều ngày 26/3/2013, tại Hà Nội, dưới sự chứng kiến của Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Đình Tiến, Lãnh đạo Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Lãnh đạo Viện di truyền nông nghiệp, Lãnh đạo hai ngân hàng Eximbank và Vietcombank, Công ty cổ phần Thanh Hà đã ký Thỏa thuận hợp tác phát triển sản xuất một số sản phẩm sinh học công nghệ cao trong nông nghiệp với công ty Shwe Tha Zin của Myanmar. Đây là kết quả nghiên cứu đã được Bộ KH&CN hỗ trợ và cấp bằng độc quyền sáng chế.

 


Trong những năm qua, Công ty cổ phần Thanh Hà đã phối hợp với các nhà khoa học trong nước nghiên cứu và sản xuất ra các sản phẩm phân bón AH, KH, NH, đây là kết quả tích hợp của 3 công nghệ: công nghệ sinh học, công nghệ nano và công nghệ hóa học. Những sản phẩm này đã được ứng dụng thành công không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước Đông Nam Á.

Tại buổi lễ ký kết, Thứ trưởng đánh giá cao những thành tích của Công ty cổ phần Thanh Hà trong việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học và đổi mới công nghệ trong việc sản xuất các sản phẩm công nghệ cao có chất lượng tốt. Thứ trưởng cũng yêu cầu Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ trong thời gian tới cần mở rộng mô hình trình diễn giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học nhằm đẩy nhanh việc thương mại hóa sản phẩm trong và ngoài nước.

Thay mặt cho Bộ KH&CN, Thứ trưởng bày tỏ sự quan tâm, ủng hộ và mong muốn rằng việc chuyển giao những sản phẩm mới từ Việt Nam sang Myanmar sẽ đạt được kết quả tốt vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Chi tiết
Chế phẩm sinh học AH,NH,KH của công ty Cổ phần Thanh Hà được chứng nhận hợp quy
VƯỜN CAM TẠI CAO PHONG-HÒA BÌNH SAU KHI SỬ DỤNG CHẾ PHẨM A-H CỦA THANH HÀ
Hiệp hội toàn cầu 4C
“Chẩn bệnh” cứu cây đa Kim Liên
Chế phẩm hữu cơ sinh học đến với huyện Trường Sa
Clip hay
Giám sát camera
Sản phẩm mới
HỮU CƠ SINH HỌC K-H
Giá  : 0 VNĐ
AH CHO CÂY ĂN QUẢ
Giá  :  VNĐ
N-H cho tiêu, điều, cà phê
Giá  : 0 VNĐ
HỮU CƠ SINH HỌC A-H
Giá  : 0 VNĐ
Hỏi đáp
Câu hỏi: Dùng phân bón gì khi lúa bị lùn sọc đen??
Câu trả lời: 

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHÂN BÓN SINH HỌC

 

(Chuyên dùng cho cây lúa bị virút vàng lùn, lùn sọc đen )

 

 

 

Phân bón lá hữu cơ sinh học Thanh Hà nổi bật ở khả năng tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch của cây trồng dựa vào các hợp chất sinh học được chiết tách từ cây dược liệu thiên nhiên (Artemisinin-C15H22O5, Aspirin-C8H18O4, Berberin-C20H18­­­NO4), kết hợp cung cấp dưỡng chất đa lượng, hợp chất hữu cơ, vi lượng dưới dạng chelated giúp cây phát triển cân bằng trong điều kiện khắc nghiệt như: hạn, rét, ngập mặn, sương muối… đảm bảo cây cho nhiều hạt, hạt to làm tăng năng suất và chất lượng nông sản. Tiết kiệm từ 20÷40% phân vô cơ, giảm số lượng thuốc hóa chất bảo vệ thực vật, tăng an toàn cho người sử dụng và sản phẩm. Hướng tới nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ an toàn và bền vững. Đây là đề tài cấp Nhà nước, do nhiều Giáo sư cán bộ kỹ thuật trong và ngoài nước, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam cũng như nhiều trung tâm nghiên cứu: Viện bảo vệ thực vật, Trung tâm khuyến nông Quốc gia, Trung tâm khuyến nông các tỉnh thành đã thực hiện hàng ngàn thí nghiệm trên các loại cây trồng cho kết quả tốt.

 

 

 

Liều lượng và cách dùng:

 

Trước khi phun xịt những ruộng lúa bị bệnh phải tháo cạn nước phun xịt kỹ   ướt lá, gốc và đất. Trong khi phun xịt lúa bị bệnh không dùng thêm các loại chất kích thích hay bất kỳ loại hoá chất nào khác kết hợp với phân bón Thanh Hà. Không bón đạm, lân, kali ở thời kỳ cây bị bệnh. Sau khi cây lúa phát triển bình thường thì chăm sóc theo qui trình hướng dẫn của địa phương.

 

Phun xịt lần 1: sau khi xạ xong phun xịt ngay, pha 1chai loại 100ml vào 600 lít nước sạch phun xịt kỹ   ướt lá, gốc và đất.

 

Phun xịt lần 2 : sau 5 ngày phun xịt như lần 1

 

Sau 15 đến 20 ngày cây lúa phát triển bình thường thì chăm sóc theo qui trình của địa phương hướng dẫn.

 

P Riêng đối với những ruộng lúa bình thường chưa nhiễm bệnh nên dùng KH, AH, NH phun xịt tăng sức đề kháng để phòng bệnh.

 

Công dụng:

 

- Tăng khả năng đề kháng cho cây lúa bị virus vàng lùn, lùn sọc đen

 

- Chế phần sinh học KH, AH, NH giúp cây trồng tăng khả năng miễn dịch, làm phục hồi nhanh các tế bào bị tổn thương khi cây bị bệnh, nhờ sự lưu dẫn các bó mạch bị tắc nghẽn trong cây, cây phát triển bình thường trở lại.

 

- KH, AH, NH làm cân bằng độ pH trong đất, cải tạo đất nghèo dinh dưỡng, tăng khả năng đẻ hữu hiệu để cho năng suất cao.

 

 

 

Để biết thêm chi tiết xin liên hệ:

 

CÔNG TY CỔ PHẦN THANH HÀ

 

 Trụ sở: Số 7 – A28 Nghĩa Tân - Cầu Giấy – Hà Nội - Việt Nam

 

ĐT:(04) 37912708                   Đường dây nóng: 0982 290 613

 

Website: http://www.thanhhagroup.com        Email: thanhha_jsc@thanhhagroup.com

 

Nơi   SX: Khu công nghệ cao Láng Hoà Lạc - Huyện Thạch Thất – Hà Nội

 

 

 

 

 

Câu hỏi: Nguyên nhân vì sao cây lúa bị đổ ngã? Để khắc phục hiện tượng trên chúng ta phải làm gì?
Câu trả lời: 

Những nguyên nhân làm cây lúa bị đổ ngã có thể tóm tắt như sau:

1. Do bón phân mất cân đối: Trong cơ cấu phân bón cho lúa nếu tỷ lệ phân đạm được bón quá cao so với lân và kali (nhất là so với phân kali), rất dễ gây nên sự mất cân đối theo hướng cây sinh trưởng nhiều về chiều cao, các tế bào dài ra trong khi thành mạch của tế bào yếu, tích lũy xellulo kém dễ gây hiện tượng đổ ngã. Trong trường hợp phân bón có tỷ lệ đạm quá cao mà đất lại nghèo lân và kali thì hiện tượng đổ ngã càng dễ xảy ra. Nếu đất trồng lúa có hàm lượng các nguyên tố lân và kali cao sẽ hạn chế được hiện tượng đổ ngã do bón phân mất cân đối như đã nói ở trên.

2. Do bón quá nhiều phân so với yêu cầu của cây: Khi ta đã chú ý bón phân cân đối đạm, lân và kali theo yêu cầu của cây nhưng cây lúa vẫn đổ ngã nếu lượng bón quá cao so với yêu cầu. Lượng bón phân quá cao khiến cây hút nhiều nguồn dinh dưỡng khoáng từ phân, trong khi khả năng quang hợp, đồng hóa của cây chỉ có hạn. Lúc này tỷ lệ các khoáng vô cơ trong cây tăng lên, dẫn đến cây phải sử dụng một phần các chất quang hợp vào mục đích giải độc. Do chi phí chất hữu cơ tăng lên nên không đủ nguồn hữu cơ cần thiết cho việc củng cố bề dầy thành tế bào gây nên hiện tượng các chất hòa tan thì nhiều nhưng không đủ vật chất “xây dựng” cần thiết, giúp cây cứng cáp. Hiện tượng này cũng đồng nghĩa với việc bội thực ở người và động vật.

3. Do thời tiết âm u, thiếu nắng cho cây quang hợp: Mặc dù lượng phân bón của ta không quá nhiều và cũng không mất cân đối, nhưng do thời tiết âm u, ít nắng kéo dài, khiến cây không quang hợp được đủ các chất hữu cơ cần thiết, làm cây sinh trưởng “vóng”, nghĩa là tế bào vươn dài ra, cây cao lên nhưng yếu ớt dễ đổ ngã.

4. Do giống lúa ta trồng thuộc loại kém chịu phân nhưng ta lại bón như những giống bình thường khác: Nguyên nhân này cũng tương tự như nguyên nhân thứ 2, tức bón quá nhiều phân so với nhu cầu của cây.

5. Do để mực nước quá sâu cũng gây cho cây lúa sinh trưởng không cân đối, dễ làm cây bị “vóng”, “yếu” dễ đổ ngã, giảm năng suất. Biết được các nguyên nhân trên ta có thể khắc phục được hiện tượng đổ ngã bằng cách bón phân cân đối, bón đúng liều lượng theo yêu cầu của cây, ngoài ra ta phải dự đoán tốt thời tiết, mùa vụ để điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp. Trong trường hợp ta đã bón “quá tay”, thấy cây lúa quá xanh và “lả lướt” thì phải điều chỉnh ngay lượng và tỷ lệ bón trong lần bón kế tiếp. Nếu có điều kiện chủ động tưới tiêu thì cần rút nước ngay, tạo điều kiện cho ruộng cạn nước và hơi khô một chút để cây lúa giảm bớt việc hút dinh dưỡng trong đất, tăng cường quang hợp tích lũy chất hữu cơ cho cây cứng cáp.


TS. Lê Xuân Đính

Câu hỏi: Phân bón chuyên dùng là loại phân có tác dụng như thế nào đối với cây trồng? Tại sao nông dân nên bón phân chuyên dùng?
Câu trả lời: 

Phân bón chuyên dùng là loại phân được sản xuất ra nhằm vào việc bón riêng cho một cây trồng xác định nào đó, với mục đích bón đúng, bón đủ, bón cân đối và bón kịp thời, đúng lượng và loại dinh dưỡng mà cây cần. Tuy nhiên, do sự không đồng nhất về giống cây trồng, đất đai và điều kiện thời tiết, khí hậu mà sự đáp ứng của các loại phân chuyên dùng cũng chỉ là sự đáp ứng chung nhất. Tùy theo hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân mà mỗi nông dân có thể cải tiến hoặc thay đổi chút ít cho phù hợp với điều kiên trồng trọt của mình. Tùy theo đặc điểm cây trồng, phân chuyên dùng có thể được sản xuất chung cho các thời kỳ bón, hoặc sản xuất thành từng loại riêng biệt cho từng thời kỳ bón.

Nhìn chung, loại phân sản xuất riêng cho từng thời kỳ bón thường đi sát hơn với nhu cầu phân bón của cây trồng. Thường thì phân chuyên dùng được sản xuất cho các thời kỳ bón chính sau đây: Phân dành cho bón lót; phân dành cho bón thúc đẻ nhánh; phân dành cho bón thúc nụ; phân dành cho bón thúc hoa; phân dành cho thúc quả. Tùy loại cây trồng mà có thể có loại phân cho thời kỳ này mà không có loại phân cho thời kỳ khác.

Chẳng hạn tất cả các loại cây trồng đều có nhu cầu bón lót, nhưng cây lúa có nhu cầu bón lót, đẻ nhánh và bón đòng; trong khi cây bông có nhu cầu bón lót, thúc nụ, thúc hoa; và cây ăn quả có nhu cầu bón lót, thúc ra cành lá mới, thúc hoa, thúc quả lớn v.v..

- Đặc điểm của phân bón lót nhìn chung là cần lân cao, đạm trung bình, kali ít hoặc không có.

- Đặc điểm của phân thúc đẻ nhánh, hoặc thúc ra cành lá mới (bón thời kỳ cây sinh trưởng mạnh) là nhiều đạm, lân trung bình hoặc ít, kali ít.

- Đặc điểm của phân thúc hoa và thúc quả lớn là đạm trung bình cao, lân ít, kali cao v.v..

Tùy theo cây trồng mà liều lượng và tỷ lệ của các loại phân này được cấu thành cho thích hợp. Nếu ta bón đúng, bón đủ liều lượng và tỷ lệ cho từng thời kỳ sẽ đáp ứng được nhu cầu của cây trồng, giúp cây sinh trưởng và phát triển cân đối, khỏe mạnh, có tiềm năng ra hoa đậu quả và cho năng suất cao, sản phẩm có chất lượng tốt.

Những cây trồng riêng biệt thường có các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu, và chính các nhà khoa học của cơ quan này đưa ra khuyến cáo. Các nhà sản xuất bao giờ cũng muốn sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng nên phải liên kết với các nhà khoa học để hình thành nên các loại phân chuyên dùng này. Ngoài ra các nhà khoa học còn giúp các nhà sản xuất khảo nghiệm, đánh giá loại phân mới trước khi đưa ra bán đại trà.

Chính vì vậy nông dân nên sử dụng phân chuyên dùng vì rất tiện lợi, dễ sử dụng, có hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, muốn cho phân phát huy tốt hiệu lực của mình, bà con cần bón thêm những vật liệu hoặc phân bón trợ giúp có tính chất cải tạo đất như phân hữu cơ, vôi để tạo cho đất có môi trường thích hợp cho việc sử dụng phân bón nếu cần.


TS. Lê Xuân Đính

Câu hỏi:  Ngoài NPK các loại nguyên tố trung, vi lượng có tác dụng như thế nào đối với cây trồng?
Câu trả lời: 

Vai trò của các nguyên tố vi lượng Các nguyên tố vi lượng bao gồm: Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Bo (B), Mangan (Mn), Molipden (Mo), Sắt (Fe), Clo (Cl).

- Vai trò của Đồng (Cu): Đồng cần thiết cho sự hình thành Diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây, nhưng thường không tham gia vào thành phần của chúng. Những cây hòa thảo thiếu Đồng có thể không trổ hoa hoặc không hình thành được hạt. Nhiều loại cây rau biểu hiện thiếu Đồng với lá thiếu sức trương, rủ xuống và có mầu xanh, chuyển sang quầng mầu da trời tối trước khi trở nên bạc lá, biến cong và cây không ra hoa được.

- Vai trò của Bo (B): Hiện tượng thiếu Bo là rất phổ biến trên thế giới. Rất nhiều loại cây ăn quả, cây rau, và các hoa màu khác có biểu hiện thiếu Bo. Cây cọ dầu đặc biệt mẫn cảm với hiện tượng thiếu Bo. Các loại đậu lấy hạt có yêu cầu cao về Bo. Bo cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống. Bo cũng hình thành nên các phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein. Thiếu Bo thường làm cây sinh trưởng còi cọc, và trước hết làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non.

- Vai trò của Sắt (Fe): Sắt là chất xúc tác để hình thành nên Diệp Lục và hoạt động như là một chất mang Oxy. Nó cũng giúp hình thành nên một số hệ thống men hô hấp. Thiếu Sắt gây ra hiện tượng mầu xanh lá cây nhợt nhạt (bạc lá) với sự phân biệt rõ ràng giữa những gân lá mầu xanh và khoảng giữa mầu vàng. Vì Sắt không được vận chuyển giữa các bộ phận trong cây nên biểu hiện thiếu trước tiên xuất hiện ở các lá non gần đỉnh sinh trưởng của cây. Thiếu sắt nặng có thể chuyển toàn bộ cây thành màu vàng tới trắng lợt. Sự thiếu sắt có thể xảy ra do sự thiếu cân bằng với các kim loại khác như Molipden, Đồng hay Mangan. Một số yếu tố khác cũng có thể gây thiếu sắt như quá thừa Lân trong đất; do pH cao kết hợp với giầu Canxi, đất lạnh và hàm lượng Carbonat cao; thiếu sắt do di truyền của cây; thiếu do hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp.

- Vai trò của Mangan (Mn): Mangan là thành phần của các hệ thống men (enzyme) trong cây. Nó hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây và có vai trò trực tiếp trong quang hợp, bằng cách hỗ trợ sự tổng hợp Diệp lục. Mangan tăng cường sự chín và sự nẩy mầm của hạt khi nó làm tăng sự hữu dụng của Lân và Canxi. Cũng như sắt, Mangan không được tái sử dụng trong cây nên hiện tượng thiếu sẽ bắt đầu từ những lá non, với mầu vàng giữa những gân lá, và đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu đen. Ơû những cây hòa thảo xuất hiện những vùng mầu xám ở gần cuống lá non. Hiện tượng thiếu Mangan thường xảy ra ở những chân đất giầu hữu cơ, hay trên những đất trung tính hoặc hơi kiềm và có hàm lượng Mangan thấp. Mặc dù hiện tượng thiếu Mangan thường đi với đất có pH cao, nhưng nó cũng có thể gây ra bởi sự mất cân bằng với các dinh dưỡng khác như Canxi, Magie và Sắt. Hiện tượng thiếu thường xảy ra rõ nét khi điều kiện thời tiết lạnh, trên chân đất giầu hữu cơ, úng nước. Triệu chứng sẽ mất đi khi thời tiết ấm trở lại và đất khô ráo.

- Vai trò của Molipden (Mo): Molipden cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men này khử Nitrat thành Ammonium trong cây. Molipden có vai trò sống còn trong việc tổng hợp đạm cộng sinh bởi vi khuẩn Rhizobia trong nốt sần cây họ đậu. Molipden cũng cần thiết cho việc chuyển hóa Lân từ dạng vô cơ sang hữu cơ trong cây. Hiện tượng thiếu Molipden có biểu hiện chung như vàng lá và đình trệ sinh tưởng. Sự thiếu hụt Molipden có thể gây ra triệu chứng thiếu Đạm trong các cây họ đậu như đậu tương, cỏ alfalfa, vì vi sinh vật đất phải có Molipden để cố định Nitơ từ không khí. Molipden trở nên hữu dụng nhiều khi pH tăng, điều đó ngược lại với đa số vi lượng khác. Chính vì điều này nên hiện tượng thiếu thường xảy ra ở đất chua. Đất nhẹ thường dễ bị thiếu Mo hơn so với đất nặng.

- Vai trò của Kẽm (Zn): Kẽm được coi như là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng. Nó thường là một nguyên tố hạn chế năng suất cây trồng. Sự thiếu hụt Kẽm đã được thừa nhận ở hầu hết đất trồng lúa của các nước trên thế giới. Tuy nó chỉ được sử dụng với liều lượng rất nhỏ nhưng để có năng suất cao không thể không có nó. Kẽm hỗ trợ cho sự tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men và cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Nó cần thiết cho việc sản xuất ra chất Diệp lục và các Hydratcarbon. Kẽm cũng không được vận chuyển sử dụng lại trong cây nên biểu hiện thiếu thường xảy ra ở những lá non và bộ phân khác của cây. Sự thiếu Kẽm ở cây bắp gọi là bệnh "đọt trắng" vì rằng lá non chuyển sang trắng hoặc vàng sáng. Lá bắp có thể phát triển những dải vàng rộng (bạc lá) trên một mặt hoặc cả 2 mặt sát đường gân trung tâm. Một số triệu chứng khác như lá lúa mầu đồng; bệnh "lá nhỏ" ở cây ăn trái hay đình trệ sinh trưởng ở cây bắp và cây đậu.

- Vai trò của Clo (Cl): Clo là nguyên tố vi lượng sống còn cho cây trồng, đặc biệt đối với cây Cọ dầu và cây Dừa. Sự thiếu hụt Clo xảy ra phổ biến đối với dừa ở Philippin và nam Sumatra của Indonesia. Clo tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây. Cụ thể là nó tham gia vào sự bẻ gẫy phân tử nước với sự hiện hữu của ánh sáng mặt trời và hoạt hóa một số hệ thống men. Nó cũng tham gia vào quá trình vận chuyển một số cation như Canxi, Magie, Kali ở trong cây, điều hòa hoạt động của những tế bào bảo vệ khí khổng, do đó kiểm soát được sự bốc thoát hơi nước v.v..


TS. Lê Xuân Đính

Câu hỏi: Bón phân cho cây cao su kinh doanh như thế nào?
Câu trả lời: 
Cây cao su được trồng sau 5 - 6 năm thường có chu vi 45 - 50 cm, cao 1,5 m và bắt đầu cho thu hoạch mủ. Cao su thường được trồng với mật độ 450 - 550 cây/ha theo khoảng cách 2,5 x 9 m hoặc 2 x 9 m. Cây ưa đất sâu mầu, thoát nước tốt, có pH 4,0 - 5,5, thuộc vùng thấp (dưới 200 m), gần xích đạo, có vũ lượng 2000 - 3000 mm/năm. Trước kia chỉ trồng từ 10o vĩ bắc tới 10o vĩ nam, nay đã mở rộng tới 20o vĩ bắc (Trung Quốc) và 20o vĩ nam (Braxin).

Thông thường, từ năm thứ 7 cao su bước vào giai đoạn khai thác. Nếu tính trong vòng 30 năm cây cao su phải sử dụng dinh dưỡng để tích lũy, quay vòng và chi cho sự hình thành mủ hàng năm.

Theo “IFA. World Fertilizer Use Manual”, số lượng dinh dưỡng chi phí cho các nhu cầu trên là:

- Tổng số D2 cố định trong cây, chu kỳ 30 năm là 1500-1800 kg N, 458-573 kg P2O5, 1440-1680 kg K2O, 300-365 kg MgO/ha.

- Tổng số D2 quay lại do lá rụng là 1400 kg N, 82 kg P2O5, 426 kg K2O, 275 kg MgO/ha.

- Tổng số lấy đi từ mủ là 485 kg N, 94 kg P2O5, 418 kg K2O, 120 kg MgO/ha.

Ngoài ra tổng lượng các nguyên tố dinh dưỡng khác cố định trong cây là: 1120-1400 kg/ha CaO; 200-250 kg/ha S, 15 kg/ha Mn, 0.7-1.5 kg/ha B, 5 kg/ha Zn, 1 kg/ha Cu.

Theo Chan et. al., 1972; Pushparajah et al., 1983, thì Cao Su cần bón 1 lượng đạm và lân hàng năm rất thấp so với các cây trồng khác: Chỉ 8 - 24 kg N và khoảng 20 kg P2O5, trong khi lượng Kali cần bón cho Cao Su rất cao: Khoảng từ 60 - 180, nhưng thường từ 60 - 100 K2O. Hiện tượng thiếu Mn thường thấy xuất hiện phổ biến ở các vùng sản xuất, cần quan tâm để bón cho cây với lượng 100 g/cây hay 45 kg MnSO4.7H2O/ha.

Bón phân cho Cao Su chủ yếu bằng cách rải trên mặt đất theo vùng tán lá, nhưng nếu bón Urea cần phải vùi vào đất. Tốt nhất là bón phân lúc bắt đầu ra lá mới. Ở Việt Nam, Tổng Công Ty Cao Su hướng dẫn bón phân cho cao su tùy theo năm cạo, mật độ và hạng đất.

• Với năm cạo từ 1-10, mật độ cây 450 bón: - 150-190 g N/cây, (tương đương 147-186 kg Urea /ha). - 120-152 g P2O5 g/cây (tương đương 180-228 kg Apatit/ha/năm). - 150-190 g K2O /cây (tương đương 112-143 kg KCl/ha/năm).

• Với năm cạo từ 11-20, mật độ 350 cây/ha bón: - 200 g N/cây, (tương đương 152 kg Urea/ha). - 140 g P2O5 g/cây (tương đương 163 kg Apatit/ha/năm). - 120 g K2O/cây (tương đương 70 kg KCl/ha/năm).

Nếu dùng phân NPK bón cho cao su thời kỳ kinh doanh nên chọn loại có tỷ lệ NPK 2:1:2 hay các loại phân có tỷ lệ kali cao hơn là được. Các loại phân có thể chọn là NPK 11-7-14; 20-7-25; 10-5-10; 12-6-9; 14-7-14; 16-6-16; 16-8-16; 17-10-17; 20-10-15 ... Tính toán sao cho lượng N bón trong 1 năm từ 70-75 kg/ ha thì lượng Lân và Kali cũng được đáp ứng đủ. Theo lượng bón này thì Cao Su Việt Nam đã được bón 1 lượng phân N hàng năm cao hơn rất nhiều trong khi lượng Kali chỉ tương đương so với mức khuyến cáo ở các nước khác. Có lẽ Cao Su Việt Nam không được trồng cây họ đậu dưới tán nên phải bón nhiều đạm chăng? Lượng phân trên được chia đều, bón làm 2 đợt.

Đợt 1: Bón vào tháng 5 - 6. Đợt 2: Bón vào tháng 10 – 11.

TS. Lê Xuân Đính

Thành tích
Đối tác
  Sản phẩm Giới thiệu Tuyển dụng Liên hệ  

CÔNG TY CỔ PHẦN THANH HÀ

Địa chỉ : Số 7 - A28 - Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện Thoại/Fax  : (043) 7912708.     Fax  : (043) 7568259.    Email : 
Thanhha_jsc@thanhhagroup.

VP. ĐẠI DIỆN TP.BUÔN MA THUỘT

Địa chỉ: số 246 Nguyễn Công Chứ - P.Tự An - TP Buôn Ma Thuột - ĐăkLăk

Điện thoại: (0500) 625 2025

Thiet ke web

Designed by GIG