0982 290 613

Ngôn ngữ

Trăn trở của người nông dân trồng chè

Biết mấy ai trong số đó hiểu được một điều rằng: Trà Việt cũng chẳng hề thua kém gì và có khi còn chứa đựng biết bao điều quí giá khác về phương diện văn hoá. Thực ra họ không hề có lỗi, bởi lẽ thói quen do học tập, do giáo dục mà có mà thành.

Bóc một họp trà líp ton giá vài chục nghìn đồng, nếu vào nhà hàng, chỉ cần nhúng một tép trà vào một bộ tách đẹp, thêm chút ít chanh đường, thế đã là một thức nhấm cao cấp với giá tương đối cao. Mấy ai ngờ được rằng, loại chè đen nguyên liệu ở bên trong đó lại ra đi từ những vườn chè, những guồng máy sản xuất của Nhà máy chè Cầu Đất Đà Lạt (và cũng có thể là ở Di Linh, Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng trước đây) được bán ra nước ngoài rồi gia công trước khi quay lại Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới. Người ta hơn chúng ta chính là ở hàm lượng công nghệ và chất xám. Đó cũng là điều mà các nhà quản lý, kinh doanh, trồng chè đau đấu mãi mà vẫn chưa tìm được lối ra. Ở Tp Lạt đã từng có doanh nghiệp trăn trở muốn thay thế nước giải khát ở quán xá bằng trà Atiso hay chè xanh miễn phí.

Ngay doanh nghiệp trà Hayih cũng đã từng mạnh dạn bỏ ra hàng chục triệu đồng để thiết lập các trà quán tại công viên mở Xuân Hương, ốc đảo hồ Xuân Hương và mới đây là khu du lịch Thung Lũng Vàng với khát vọng mang hương vị của loại chè cao cấp do chính người Việt trồng, chế biến ngay tại vùng đất cao nguyên mang tên Đà Lạt. Nữ chủ nhân của doanh nghiệp này cũng đã từng nghĩ tới việc đầu tư hệ thống trà túi lọc giá mềm để phân phối trong các kênh dịch  vụ nhà hàng ở Đà Lạt để thay thế những loại chè ướp hương không mấy có lợi cho sức khoả của thực khách- nhưng vấn đề còn tuỳ thuộc rất nhiều vào thói quen tổ chức và sử dụng hàng hoá đạt chất lượng của chính những người kinh doanh. Rõ ràng vấn đề vẫn còn tuỳ thuộc nhiều ở người buôn bán và cả người tiêu dùng.

Cũng lại nói về chè xanh, từ thủa hàn vi xa xưa ông cha ta đã dùng nó như một thứ của qúi sau những giờ nhọc nhằn ruộng nương. Bát nược chè xanh, quán chè đầu đình chẳng phải đã đi vào thi ca, nhạc hoạ tứ bấy lâu nay sao. cùng với hành trình mở đất ở bờ cỏi phương Nam, bát chè xanh đã biến tướng thành những ly chè đá để phù hợp với nhu cầu của cuộc sống,  giờ đây ở cả  hai miền Nam Bắc, bên cạnh những quán trà theo lối cung đình, ly trà đá vẫn cứ hiện diện như là một hình ảnh vô cùng thân thuộc với mọi người dân Việt? Người trồng chè không sợ nắng mưa cực nhọc, có giống mới, kỹ thuật mới thì sẵn sàng áp dụng và làm theo.

Ấy vậy mà giá chè có lúc quá bèo, quá rẻ. Công nghệ làm chè xanh trở thành nước giải khát đóng chai không độ đang trở thành mót, được lăng xe tuyệt diệu trên màn hình tivi mỗi ngày. Vậy mà người trồng chè cả nước vẫn chưa có nhiều điều kiện để mở mày mở mặt. Cây chè từ ngót thế kỷ qua đã trở thành máu thịt của người dân Thái Nguyên-Bắc Thái- Lâm Đồng và còn nhiều nơi nữa. Có một doanh nghiệp là trà Tâm Châu-Bảo Lộc, Lâm Đồng từng nuôi mơ ước tìm ra công nghệ chiết xuất hoạt chất quí từ lá chè để phục vụ ch